5-ly-do-duy-nhat-ban-nen-tha-thu
18 Th5

Không niềm tin

Bình luận này đã được thực hiện , trong những từ chính xác , bởi John Gribbin , chủ bút vật lý của tạp chí khoa học mới , trong một chương trình tranh luận trên BBC-TV với Malcolm Muggeridge, và nó đã gây một sự ngạc nhiên cho hầu hết người xem . Nó dường như có một ảnh hưởng của thời trung cổ mà gây ra cho hầu hết mọi người , thậm chí được giáo dục , nghĩ rằng mọi người phải “ có niềm tin” vào cái này hay cái kia, rằng nếu không là một người theo tôn giáo , thì phải là một người không tin vào tôn giáo một cách mạnh mẽ , và nếu một người không nghĩ chủ nghĩa tư bản là hoàn hảo , thì người ta phải tin mạnh mẽ vào chủ nghĩa xã hội , và nếu người ta không tin tuyệt đối vào vào cái X , thì nói theo cách khác người ta phải tin hoàn toàn vào cái không phải là cái X hay đối lập với cái X .

Quan điểm của tôi là niềm tin tuyệt đối là cái chết của sự thông minh . Ngay khi người ta tin vào những giáo lí của bất kỳ loại nào , hay tin tưởng với hoàn toàn không có nghi ngờ , người ta sẽ dừng suy nghĩ về cái phần đang tồn tại . Càng thêm tin tưởng hoàn toàn một người có , cang ít cái còn lại để nghĩ về , và một người chắc chắn về mọi thứ sẽ không có nhu cầu để nghĩ về bất kỳ thứ gì và có thể được xem là chết lâm sàng dưới tiêu chuẩn của y học hiện nay, ở chỗ mà thiếu hoạt động của não được xem như là cuộc sống đã kết thúc .

Thái độ của tôi là bằng với Dr. Gribbin và cái phổ biến của các nhà vật lý hiện nay , và được biết trong vật lý là “ thuyết Copenhagen “ , vì nó được tạo ra ở Copenhagen bởi tiến sĩ Niels Bohr và những đồng nghiệp của anh ấy giữa năm 1926-28 . Thuyết Copenhagen thỉnh thoảng được gọi là “ thuyết của không  gì chắc chắn “ và nói rằng bất kỳ mô hình chúng ta sử dụng để thiết lập trải nghiệm của chúng ta về thế giới là cái mô hình của thế giới và không nên nhầm lẫn với thế giới của chính nó . Alfred Korzybski cố gắng phổ biến điều này ra vật lý bên ngoài với khẩu hiệu , “ bản đồ không phải là cái vùng đất .“ Alan Watts, một triết gia tài năng phương đông , nói lại nó một cách sống động hơn “ cái menu không phải là cái bữa ăn”

Niềm tin trong cảm giác của truyền thống , hay niềm tin tuyệt đối , giáo điều là cái ảo tưởng cường điệu , “ thuyết hiện hành của tôi “ –“ chứa toàn bộ vũ trụ và sẽ không cần thay đổi gì “ . Về mặt lịch sử của khoa học và kiến thức nói chung , điều này có vẻ ngớ ngẩn và ngạo mạn với tôi , và tôi luôn ngạc nhiên rằng quá nhiều người vẫn có thể sống với cái thái độ trung cổ như vậy .

Nói ngắn gọn , điều chủ yếu tôi học được trong cuộc sống của tôi là “ thực tại” luôn là số nhiều và có thể thay đổi .

“ Thực tại” trong ngôn ngữ tiếng anh là : (a) một danh từ và (b) số ít . Nghĩ về trong ngôn ngữ tiếng anh ( và trong nhiều ngôn ngữ Âu -Ấn khác ) do đó một cách vô thức huấn luyện chúng ta hình dung “ thực tại” như là một thứ , kiểu như một toàn nhà trọc trời ở New York , mà mỗi phần chỉ là một “ phòng” khác bên trong cùng một tòa nhà . Lập trình ngôn ngữ này là quá phổ quát mà hầu hết mọi người không thể “ nghĩ “ ra bên ngoài nó chút nào , và khi một người cố gắng để đưa ra một cách nhìn khác biệt thì họ hình dung là người đó đang nói vô nghĩa .

Ý tưởng rằng “ thực tại” là một danh từ , một thứ đặc chắc như một viên gạch hay gậy bóng chày  , đến từ cái sự thật sinh học rằng hệ thống thần kinh của chúng ta bình thường được tổ chức cái rung động của năng lượng vào trong những “ thứ” vật chất , có lẽ như là một chương trình sống sót nhất thời . Những “ thứ” như vậy , tan trở lại vào rung động năng lượng – là hành động hay động từ — khi hệ thống thần kinh được nối với thuốc nhất định hay được biến đổi bằng những bài tập về tinh thần hay được hỗ trợ bởi những dụng cụ khoa học  . Trong cả thuyết về thần bí và vật lí , có một sự đồng ý chung rằng “ thứ” mà được tạo bởi hệ thống thần kinh của chúng ta và “ những thực tại” ( số nhiều ) được miêu tả tốt hơn như là sự kết hợp tổng thể và những bó của những chức năng về năng lượng .

Đủ đẻ nói về “ thực tại “ như một danh từ . Cái ý tưởng “ thực tại “ là số ít , như một cái bình kín , không phù hợp với khoa học hiện nay đang tìm thấy trong thế kỉ này , gợi ý rằng “ thực tại” có thể được nghĩ như là uốn lượn , như một dòng sông , hay tương tác , như một điệu nhảy hay tiến hóa , như cuộc sống của chính nó .

Hầu hết nhà triết gia đã biết , ít nhất kêt từ  500 BC,  rằng thế giới trải nghiệm bởi giác quan của chúng ta không là “ thế giới thật” mà là sự sáng tạo chúng ta tạo ra – công việc cá nhân của chính chúng ta về nghệ thuật . Khoa học hiện đại bắt đầu với sự chúng minh của Galileo rằng màu sắc không ở “trong”  vật thể  mà là “trong “sự tương tác giác quan của chúng ta với vật thể , được hiểu là “ thực tại” được tạo ra bởi chính bộ não của chúng ta .

 

Leave a comment